Saigon

Autumn

Sakura B

Thác Bản Giốc

Ngựa Hoang

Tulip

Osaka

Sakura

Friday, June 2, 2017

Thu Thành Vãn Vọng - Nguyễn Phi Khanh

秋城晚望-阮飛卿
木落都城九月天,
斜陽罩地截雲煙。
離鴻遠遠迎風陣,
隙月涓涓隔樹懸。
吟興四時秋易感,
人生萬事老堪憐。
兵戈況復彫殘後,
遙望晴旻一慨然。

Phiên Âm
Thu Thành Vãn Vọng-Nguyễn Phi Khanh
Mộc lạc (1) đô thành cửu nguyệt thiên,
Tà dương tráo địa tiệt vân yên.
Ly hồng viễn viễn nghênh phong trận,
Khích nguyệt (2) quyên quyên cách thụ huyền. (3)
Ngâm hứng tứ thời thu dị cảm,
Nhân sinh vạn sự lão kham liên. (4)
Binh qua huống phục (5) điêu tàn hậu,
Dao vọng tình mân (6) nhất khái nhiên.

Chú Thích
(1)Mộc Lạc木落: lá cây tàn rụng.  
(2)Khích nguyệt隙月: ánh trăng xuyên qua kẽ hở.
    Quyên quyên涓涓: hình dung nước chảy chậm chậm nhè nhẹ; hình dung trong sáng thuần khiết; mới mẻ trong sáng.  
(3)Huyền: treo.
(4)Kham liên 堪憐: lão cảnh kham liên.老景堪怜= cảnh già buồn bã, thê lương.
(5)Huống phục: thêm vào, lại thêm.
(6)Mân: trời, thiên không, đặc biệt chỉ trời mùa thu.

Dịch nghĩa:
Chiều mùa thu ở đô thành ngắm cảnh.
Đô thành lá cây tàn rụng, trời tháng chín,
Nắng chiều trùm mặt đất cắt khói mây.
Xa xa đàn chim hồng ra đi bay đón cơn gió,
Ánh trăng trong sáng xuyên kẽ lá(vầng trăng) treo cách ngọn cây.
Hứng ngâm thơ trong bốn mùa, mùa thu rất dễ cảm,
Muôn việc trong đời người, tuổi già thì buồn bã.
Sau cơn binh đao lại thêm cảnh điêu tàn,
Trông xa trời tạnh ngậm ngùi thay!

Phỏng Dịch:

Ngắm Cảnh Chiều Thu

Tháng chín thành đô lá rụng đầy,
Nắng chiều phủ đất cách trời mây.
Chim hồng xa tít vờn cơn gió,
Trăng sáng xuyên cành chiếu ngọn cây.
Ngâm hứng bốn mùa thu dễ cảm,
Ở đời muôn việc lão buồn vây.
Điêu tàn cảnh sắc sau chinh chiến,
Xa ngắm trời quang cảm khái thay.

HHD 10-26-16


 NGẮM CẢNH CHIỀU THU

     Nhìn cảnh thành đô lá rụng vàng
     Cây buồn tháng chín bóng thu sang
     Chim hồng sải cánh bay theo gió
     Trăng sáng lạnh lùng khiến mộng tan
     Xuân hạ thu đông mùa  bốn nhịp
     Tháng năm trôi nổi chuyện buồn mang
     Chiến chinh đã hết đời tan tác
     Cảm khái mắt nhìn cảnh phá hoang.

       BẠCH NGA


Chiều ngắm thành thu

Tháng chín đô thành lá rụng rơi
Nắng chiều trải đất cắt mây trời
Chim hồng xa thẳm vờn theo gió
Trăng sáng len cành vắt ngọn chơi
Ngâm hứng bốn mùa, thu cảm xúc
Sống đời vạn sự, lão than ôi
Binh đao chết chóc thêm tàn phá
Trời tạnh vời trông rõ ngậm ngùi!

Lộc Bắc
Oct2016

Ngắm cảnh thành thu

Kinh đô tháng chin lá rơi vàng
Mây khói trời chiều bóng cắt ngang
Xoải cánh chim hồng giăng đón gió
Xuyên cành trăng sáng trải thênh thang
Bốn mùa xướng họa thu sinh cảm
Muôn việc đời người lão hận mang
Cảnh sắc điêu tàn sau cuộc chiến
Nhìn trời cảm thấy nỗi buồn sang

Bá Nha 26/10/2016

Ngắm thu ngậm ngùi 

Tháng chín cây tàn lá rụng rơi ,
Giữa cảnh phồn hoa ngắm đất trời ,
Ánh chiều vàng hực mây lan khói ,
Chim hồng xoãi cánh gió chơi vơi ,
Trăng tỏ xuyên cành in vết lá ,
Vầng trăng hờ hững vắt ngọn khơi ,
Thi hứng bốn mùa thu dể cảm ,
Tuổi già thế sự dể buồn mang ,
Chinh chiến qua đi tàn thế cuộc ,
Thu lạnh càng thêm nỗi ngậm ngùi .

Đ.Trần Nov 28/16


Chiều thu bến cũ

Tàn thu bến cũ lá rơi đầy 
Nắng xuống chiều lên cắt khói mây
Nương gió hồng bay tung sãi cánh
Xuyên cành trăng ẩn khuất cành cây
Hồn thơ hoài cảm mùa thu úa
Tuổi hạc vui buồn theo gió mây
Chinh chiến tàn theo mùa hạ cũ
Lặng nhìn mây trắng vẫn còn bay
                 
                 Thanh Lam (30-10-16)


Cảnh thu thành đô

Tháng chín thành đô ngập lá vàng
Lá rơi báo hiệu mùa thu sang
Khói vương mây phủ vàng óng ánh
Bầy chim sãi cánh rất rộn ràng
Trăng tỏ soi nghiên trong ánh mắt
Vầng trăng lơ lững giữa trời trong
Gợi hứng thơ tuôn tràn khắp chốn
Thế sự trần gian tuổi xế chiều
Chiến chinh rồi sẻ tan thành khói
Thu rơi lạnh lẻo quá thu ơi !
PC (29/10/16)


Trong thành ngắm cảnh Thu 

Lá rụng khắp thành tháng chín ơi 
Nắng nghiêng phủ đất vạch mây trời 
Cánh chim hồng vút vờn giông lộng 
Trăng ánh vàng len lách kẽ soi 
Thi hứng bốn mùa,  Thu cảm dễ 
Đời dây vạn việc, khọm buồn tơi 
Còn gì đâu nữa sau binh lửa 
Vời vọng trời quang, chỉ ngậm ngùi 

NguyễnTâmHàn Oct-2016


Thu dạ châm thanh - Nguyễn Khuyến

秋夜砧聲 - 阮勸
更深霜重晏裘輕
四顧寒砧枕畔縈
搗月高低侵角嚮
隨風斷續半虫聲
驚回戍婦襄城夢
喚起征夫魏闕情
一種幽愁消未得
遠山何處又鐘鳴

Phiên Âm
Thu dạ châm thanh - Nguyễn Khuyến
Canh thâm sương trọng án cừu (1) khinh,
Tứ cố hàn châm (2) chẩm bạn oanh. (3)
Đảo nguyệt (4) cao đê xâm (5) giác hưởng,
Tùy phong đoạn tục bán trùng thanh.
Kinh hồi thú phụ (6) tương thành mộng, (7)
Hoán khởi chinh phu ngụy khuyết tình. (8)
Nhất chủng u sầu tiêu vị đắc,
Viễn sơn hà xứ hựu chung minh.

Chú Thích
(1)  Cừu  =  áo bằng da thú.
Án Cừu晏裘 = Áo của Tể Tướng Án Anh đời Chiến quốc. Vì muốn tiết kiệm nên ông mặc 1 cái áo khoác bằng da rất lâu. Về sau người ta dùng chữ “Án cừu” để chỉ sự tiết kiệm hay cảnh nghèo khó. Đỗ Mục đời Đường có thơ rằng:
“Lữ quán dạ thâm Khương bị lãnh, 旅馆夜忧姜被冷,
“Mộ giang hàn giác Án cừu khinh, 暮江寒觉晏裘轻.”
Tạm dịch: “Đêm khuya lữ quán chăn Khương lạnh,
                  “Rét mướt sông chiều áo Án đơn.”
Cũng là nói cảnh khốn cùng.
(2) Châm   = chày bằng đá dùng để giặt quần áo.
(3) Oanh    =  oanh nhiễu縈繞 = quay quanh; oanh hồi 縈回 quay vòng lại.

(4) Đảo Nguyệt  搗月 = ám chỉ  trăng sáng = do câu Ngọc thố đảo dược   玉兔搗藥 = tương truyền trên mặt trăng có con thỏ trắng ngồi giã thuốc trường sinh.
(5) Xâm   =   tiến dần, xâm lấn, xâm đoạt.
(6) Thú phụ  戍婦 =  vợ của người lính đồn trú ở phương xa.
(7) Tương Thành  襄城  =   Thuộc tỉnh Hà Nam TH. Trước Tây lịch, Chu Tương Vương 周襄王 lánh nạn nội phản chạy ra đây và cho xây thành đắp lũy vì vậy được gọi là Tương Thành. Từ đó Tương Thành là trọng điểm giao thông và quân sự. Hạng Vũ   sau khi chiếm được Tương Thành đã hạ lệnh chôn sống tất cả những người trong thành, kể cả thứ dân già trẻ lớn bé. Sau này Hạng Vũ còn tàn sát thêm 5 lần nữa và được lịch sử TH cho là “Lục thứ đại đồ sát 六次大屠殺” của Hạng Vũ. Vào cuối đời Minh, Lý Tự Thành 李自成 khởi nghĩa, công phá Tương thành nhiều lần,giết tướng triều đình là Uông Kiều Niên 汪喬年. Người chết vô số.
        Tương thành mộng 襄城夢  = Cụ Nguyễn Khuyến muốn chỉ giấc mộng của người vợ lính có chồng đi chinh chiến phương xa, muốn được đoàn tụ cùng chồng (cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?). Ngoài ra tôi không thấy còn điển tích nào khác về “Tương thành mộng”.
(8) Ngụy Khuyết 魏闕 = Cửa cao lớn trước cung điện nhà vua. Ngụy khuyết tình  hay ngụy khuyết tâm  ám chỉ lòng ham muốn công danh.

Dịch nghĩa:
Tiếng đập vải đêm thu 
Canh khuya sương nặng áo khoác nhẹ
Bốn bề tiếng đập quanh quẩn bên gối
Dưới trăng (tiếng đập vải) cao thấp át cả tiếng tù và.
Theo gió đứt nối lẫn với tiếng côn trùng.
Khua tỉnh giấc mộng “Tương Thành”của người vợ lính (muốn được đoàn tụ với chồng đang chinh chiến phương xa).
Gợi dậy lòng ham muốn công danh của kẻ chinh phu.
Một thứ u sầu chưa tiêu tan được
Từ núi xa nào đó lại có tiếng chuông.



Phỏng Dịch:

Đập Vải Đêm Thu
Áo đơn sương nặng canh tà,
Tiếng chày lẫn tiếng tù và trùng thanh.
Bốn bề vang vọng loanh quanh,
Gió đưa bên gối trăng thanh mơ màng.
Chinh phụ tỉnh giấc mộng vàng,
Chinh phu khơi động sa tràng công danh.
U sầu còn đọng trong mành,
Núi xa đâu đó chuông lành ngân vang.

HHD    9-26-15

Tiếng chày đêm thu

Canh khuya sương nặng áo mong manh
Chày đập bốn bên gối quẩn quanh
Dồn dập dưới trăng che kẻng rúc
Gió đưa trầm bổng dế cầm canh
Hoảng kinh vợ lính vừa nhen mộng
Khơi dậy chinh phu mối khuyết tình
Một thứ u sầu chưa xóa được
Núi xa đâu đó tiếng chuông nhanh

Lộc Bắc     Sept2015


Đêm thu đập vải

Áo mỏng canh khuya sương nặng rơi
Bốn bề gối đập vọng đầy vơi
Dưới trăng còi rúc nghe cao thấp
Trên gió trùng kêu thật rã rời

Tỉnh mộng đoàn viên người chiến phụ
Dậy lòng khơi động kẻ chinh phu
U sầu một cõi sao tiêu được
Có tiếng chuông ngân tự cõi mù
Bá Nha 26/09/2015


Đập vải đêm thu

Đêm trường sương nặng áo mong manh
Gối chiếc mơ màng  tiếng chậm nhanh
Tù và trầm bỗng  trăng thu lạnh
Côn trùng hòa nhịp tiếng đêm thanh
Tương Thành chinh phụ tàn cơn mộng
Xương trắng công hầu đuổi lợi danh
Một khối u tình sao khó dứt
Núi xa chuông vẳng điểm tàn canh

                      Thanh Lam (27-09-15)


Đối tửu - Nguyễn Du

對酒   -  阮攸    Đối tửu  -  Nguyễn Du

 

趺坐閒窗醉眼開,     Phu tọa nhàn song tuý nhãn khai,

落花無數下蒼苔。     Lạc hoa vô số há thương đài. 

生前不盡樽中酒,     Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,

死後誰澆墓上杯。     Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi ? 

春色漸遷黃鳥去,     Xuân sắc tiệm thiên hoàng điểu khứ, 

年光暗逐白頭來。     Niên quang ám trục bạch đầu lai. 

百期但得終朝醉,     Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý, 

世事浮雲真可哀。     Thế sự phù vân chân khả ai.


Chú thích
(1) phu tọa = ngồi xếp bằng, ngồi kiết già.
(2)Phỏng theo 1 câu thơ của Triệu Quỳ 趙葵  đời Tống:
     落花無數點蒼苔  lạc hoa vô số điểm thương đài.
(3) Tôn = cái chén uống rượu, cái chai.
(4)Kiêu= rưới, tưới; mộ thượng bôi = cái ly để trên nấm mồ. (chữ “mộ thượng bôi” ở câu 4 đối với chữ “tôn trung tửu” của câu 3) 
(Chú ý: chữ “bất=chẳng”, phủ nhận trợ động từ, ở câu 3 đối với chữ “thùy=ai”, nghi vấn đại danh từ ở câu 4, gây lúng túng cho người muốn dịch sát nghĩa bằng thơ Đường luật)
(5)Tiệm thiên = dần dần thay đổi.
(6) Niên quang = nói về thời gian; ám trục=ngầm đuổi.
(7)Bách kỳ = đời người, do câu nhân sinh bách tuế vi kỳ 人生百嵗為期 = đời người hạn kỳ 1 trăm năm, hoặc câu bách niên viết kỳ di 百年曰期頤 =1 trăm năm là hạn kỳ của đời sống.
(8)Chung triêu = có 2 nghĩa: suốt buổi sáng, cũng được hiểu là suốt ngày (chỉnh thiên 整天, chung nhật 終日, theo Hán Điển)

Dịch nghĩa

Ngồi xếp bằng bên cửa sổ nhàn hạ, mắt say mở,
Hoa rơi vô số xuống rêu xanh.
Lúc sống không (uống) cạn chén rượu,
Chết rồi, ai (cầm) cái ly để trên nấm mồ mà rưới? (được hiểu là rưới lên mộ)
Sắc xuân thay đổi dần, chim vàng bay đi,
Năm tháng ngầm thúc dục, đầu bạc đã đến.
Trăm năm, chỉ được suốt ngày say,
Thế sự (như) mây nổi, thật đáng buồn.


Phỏng Dịch

(1)
Xếp bằng bên cửa mắt mơ say,
Hoa rụng xuống rêu xanh điểm đầy.
Chai rượu lúc sinh tu chẳng cạn,
Mộ phần khi tử rưới còn ai?
Mầu xuân dần nhạt chim vàng biến,
Thời khắc ngầm xui tóc bạc phai.
Bách tuế suốt ngày say túy lúy,
Chuyện đời mây nổi đáng buồn thay.
  
(2)
Xếp bằng bên cửa mắt say,
Hoa rơi vô số phủ đầy rêu xanh.
Rượu ly chẳng cạn lúc sinh,
Chết rồi nấm mộ ai đành rưới đây?
Sắc xuân dần nhạt chim bay,
Thời gian thôi thúc tóc mây bạc mầu.
Trăm năm mong được say lâu,
Chuyện đời mây nổi nỗi sầu không phai.

HHD 7-16-16


Đối Tửu

1-       
Ngồi chơi bên cửa mắt mờ cay
Hoa rụng trên rêu phủ lớp đầy
Lúc sống rượu chai không uống cạn
Chết rồi ai tưới mộ dùm đây?
Sắc xuân dần nhạt chim vàng khuất
Năm tháng dục ngầm tóc trắng phai
Được cái trăm năm say túy lúy
Mây trôi thế sự đáng buồn thay!

2-       
Ngồi chơi bên cửa mắt cay
Thềm rêu hoa rụng lấp đầy sắc xanh
Rượu không cạn chén lúc sinh
Chết rồi ai rưới mộ mình dùm đây
Mùa Xuân dần nhạt, chim bay
Thời gian dục dã tóc tai đổi mầu
Trăm năm uống suốt giải sầu
Chuyện đời mây nổi chìm sâu nỗi buồn!

Lộc Bắc
              Jul2016


ĐỐI CUỘC .
Thế giới đắm chìm trong đắng cay
Đau thương chết chóc rãi vương đầy
Bá quyền , thù hận còn chưa dứt
Độc lập hòa bình sao biết đây ?
Đời sống phai đi niềm haṇh phúc
Tóc đầu điểm trắng bạc như mây
Tuổi già an hưởng cùng thơ nhạc
Bè bạn gần xa vui lắm thay !!

                         TK. 7/17/2016


ĐỐI CẢNH

Hoàng hôn rũ bóng mấy trăng đầy
Lặng ngắm đời trôi mắt bỗng cay
Tình đến niềm vui mây trắng xóa
Tình đi buồn rũ mộng tan bay,
Tóc dài phủ rối thơ thêm lạnh
Áo trắng mơ phai gió muộn bầy
Bóng nhỏ cô phòng  ngồi tĩnh măc
Tơ lòng đối cảnh tự thương thay !.

                           BẠCH NGA


Trước rượu 

1- 
Bên cửa khoanh chân nhướng mắt cay 
Thềm rêu hoa rớt phủ giăng đầy 
Còn sinh rượu đó ta tu đấy 
Hết kiếp mộ nào kẻ tưới đây  ? 
Xuân thắm đang lui chim chóc khuất 
Năm chồng đã điểm tóc sương phai 
Trăm năm nếu có dường say khướt 
Thế sự mây trời , thật thảm thay 

2- 
Bên song nhướng mắt còn cay 
Hoa rơi phủ ngập thềm đầy rêu xanh 
Say sưa cho trọn kiếp sinh 
Mộ khô ai kẻ thương mình tưới đây  ? 
Xuân tàn én đã xa bay 
Thời gian phủ xuống tóc phai nhạt mầu 
Đời trăm năm, rượu giải sầu 
Thế tình mây dạt trũng sâu kiếp buồn 

NguyễnTâmHàn 


Vọng Phu thạch - Cao Bá Quát

望夫石  -  高伯适     Vọng Phu thạch -   Cao Bá Quát

獨立山頭第一峰,      Độc lập sơn đầu đệ nhất phong, 
朱凋粉謝為誰容。      Chu điêu phấn tạ vị thuỳ dung? 
音書久斷人何處,      Âm thư cửu đoạn nhân hà xứ ? 
天海無涯路幾重。      Thiên hải vô nhai lộ kỷ trùng? 
血淚煙和明月濕,      Huyết lệ yên hoà minh nguyệt thấp, 
香鬟雲跡綠苔封。      Hương hoàn vân tích lục đài phong. 
天荒地老情猶昨,      Thiên hoang địa lão tình do tạc, 
夜夜敲殘壁古鐘。      Dạ dạ xao tàn bích cổ chung.

Chú Thích
Phong  : ngọn núi.
Điêu 
: điêu tàn.
Dung 
  = dung nhan.
Âm thư  
音書 =  thanh âm và thơ tín = thơ tín.
Yên hòa  
煙和 = Yên là khói, hòa có nhiều nghĩa như người Việt vẫn thường dùng. Tôi dịch nguyên âm là "khói hòa".
Thấp 
 = ẩm thấp, ẩm ưót, làm ướt.
Hoàn  
 = búi tóc.
Tích  
 = dấu vết.
Phong  
 = bao lại, đóng lại, bao phủ.
Xao (sao, khao)  
敲 = gõ.
Bích  
  = vách, tường, tác giả ám chỉ vách núi hoặc vách miếu thờ.

Dịch Nghĩa
Bài thơ “Đá vọng phu” của Cao Bá Quát.
Đứng một mình trên đầu núi ngọn thứ nhất,
Mầu son phai nhạt phấn tàn tạ, (còn) trang điểm vì ai (cho ai xem).
Thư tín gián đoạn từ lâu, người ở nơi nao?
Trời biển không bờ bến, đường xa mấy trùng.
Huyết lệ khói hòa thấm ướt vầng trăng sáng.
Hương tóc dấu mây bao phủ rêu xanh.
Dù trời (tàn) hoang đất già cỗi,  tình còn như ngày hôm qua,
Đêm đêm đánh chuông cổ nơi vách tàn.
  
Phỏng Dịch

Đá Vọng Phu

Núi cao đứng lặng  bóng ai,
Phấn son phai nhạt hình hài biếng trang.
Thư gián đoạn, người quan san,
Biển trời ngăn cách dặm ngàn bao la.
Khói mờ máu lệ trăng tà,
Dấu mây hương tóc phủ bờ rêu xanh.
Còn trời còn đất còn tình,
Vách tàn gõ tiếng chuông thanh đêm mờ.

HHD 12-12-2014

 


 
Bản dịch của Lý Lãng Nhân

Đầu non đá tạc hình hài
Son phai phấn nhạt vì ai ngóng chờ
Nguời đi xa xứ vắng thơ
Biển trời cách biệt mịt mờ nước non
Máu hòa lệ khói trăng tròn
Mây giăng tóc phũ rêu còn rũ xanh
Trời già đất cổi chung tình
Đêm đêm vẳng tiếng chuông rền động xa. 



Đá trông chồng 

Đơn độc đầu non đỉnh ngất trời
Son mờ phấn nhạt, đẹp cho ai?
Tin thư vắng bặt, người đâu nhỉ?
Trời biển mênh mông, mấy lớp bày?
Huyết lệ, khói hòa trăng sáng lạnh
Hương khăn, mây dấu sắc rêu phai
Trời cằn đất cỗi tình như mới
Chuông cổ đêm đêm đổ tiếng hoài!

Lộc Bắc
 Dec2014

Đá Vọng Chồng

Cô độc trên non tại ngọn đầu
Vì ai son nhạt đã từ lâu?
Tin thư biền biệt người nào thấy
Biển rộng muôn trùng bến ở đâu ?
Trăng sáng hoen mầu rơi huyết lệ
Rêu mờ khói tóc tỏa đêm thâu
Đất trời hoang lạnh tình nào nhạt
Chuông đổ khuya vang vách núi sầu

Bá Nh14/12/2014


Hòn  Vọng  Phu

Đầu  núi   cô  đơn  dáng  mảnh  mai
Má  hồng  phai  nhạt  cũng  vì  ai
Đỏi  vắng chập  chùng  tin  vắng  bặt
Sông  dài  cách  trở  bóng  hình  ai
Khói  tỏa  mịt  mùng  hòa  nước  mắt
Rêu  mờ hưong  tóc  quyện  làn  mây
Sông  cạn  đá  mòn  tình  chẳng  nhạt
Chuông  chùa  vách  động  đếm  canh  dài

                                 Thanh  Lam (14-12-14)



An Quán tảo xuân - Cao Bá Quát

安館早春 - 高伯适     
三更鐘斷雞咿喔,
落落數家聞爆竹。 
出門倦倚立門看, 
路少燈行室稀燭。 
 
客話當初蕃盛時,
粉墻朱戶照江湄。
 即今春早銜泥燕, 
猶倚胡家門裡飛。

Phiên Âm
An Quán tảo xuân - Cao Bá Quát

Tam canh chung đoạn kê y ốc, 
Lạc lạc sổ gia văn bộc trúc. 
Xuất môn quyện ỷ lập môn khan, 
Lộ thiểu đăng hành thất hy chúc.
 
 
Khách thoại đương sơ phồn thịnh thì, 
Phấn tường chu hộ chiếu giang my. 
Tức kim xuân tảo hàm nê yến, 
Do ỷ Hồ gia môn lý phi.


Chú Thích
1- Quán trọ An Quán : không rõ tại đâu
2- Y ốc 
咿喔 = tiếng gà gáy
3- Ỷ  = nương dựa
4- Câu 5 đến câu 8: Đoạn này tác giả lấy ý từ bài thơ "Ô y hạng" (Xóm áo đen) của Lưu Vũ Tích 劉禹錫, có ý hoài cổ, buồn ảm đạm:
 
朱雀橋邊野草花,Chu tước kiều biên dã thảo hoa
烏衣巷口夕陽斜。Ô y hạng khẩu tịch dương tà.
舊時王謝堂前燕,Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến,
飛入尋常百姓家。Phi nhập tầm thường bách tính gia.
 
Chu Tước Kiều 
朱雀橋  : nay ở tỉnh Giang Tô, bắc ngang sông Hoài Hà
Ô Y Hạng 
烏衣巷 : xóm áo đen = ở Nam Kinh, vào đời Tấn, hai nhà giàu có là Vương Đạo và Tạ An ở đây. Con cháu của họ đều mặc áo đen vì vậy có tên xóm áo đen.
 
Tạm dịch: Bên cầu Chu Tước dã  hoa vương,
                 Cửa ngõ  ô y bóng tịch dương.
                 Chim yến thời xưa  Vương, Tạ cũ,    
                 Lượn bay trăm họ xóm tầm thường.      
                 HHD                                                  
5- Phải chăng 1 câu thơ của Thế Lữ đã lấy ý từ bài này:
Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,
Trong lúc gần xa pháo nổ ran.
Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.

Dịch Nghĩa
Bài thơ Xuân Sớm ở quán trọ An Quán của Cao Bá Quát
Canh ba chuông dứt tiếng gà gáy
Rời rạc vài nhà nghe pháo trúc nổ.
Ra cửa mệt mỏi đứng dựa cửa xem,
Ngoài đường thiếu ánh đèn, trong nhà thiếu nến.
  
Khách nói lúc xưa thời phồn thịnh,
Tường phấn cửa son chiếu ven sông.
Đến nay xuân sớm chim yến ngậm bùn (để làm tổ),
Còn nương dựa trong môn hộ nhà họ Hồ mà bay lượn.
 
Phỏng Dịch

Xuân Sớm
Chuông gõ canh ba gà gáy sớm,
Dăm nhà lác đác pháo tre vang.
Mỏi buồn tựa cửa nhìn xuân đến,
Đường vắng đèn thưa ngọn nến vàng.

Phồn thịnh thời xưa người ngưỡng mộ,
Cửa son tường phấn chiếu ven sông.
Giờ đây xuân sớm trong mầu nhớ,
Yến lượn vườn hoang bên cửa song.

HHD 2-4-2015 

XUÂN BUỒN

Canh ba ngồi tựa cửa
Xuân đến, chuông chùa ngân
gà gáy vang cuối ngõ
pháo tre nổ xa gần

Xóm cũ còn đây, người xa mất
Xuân nào oanh yến lượn đầy sân
cửa son tường phấn xuân hoan hỉ
dập dìu tài tử đón giai nhân ...

Xuân nay sầu lẽ bóng
đường vắng, nhà trống không
Xuân sớm về qua ngõ
vườn hoang mấy bụi hồng.

LÊ THỊ BẠCH NGA

Tảo xuân

Canh ba chuông dứt gà eo óc
Lẹt đẹt dăm nhà vang pháo trúc
Mệt mỏi ra ngoài tựa cửa trông
Đèn thưa đường vắng, phòng hiu hắt

Người đồn lúc trước thuở hanh thông
Tường phấn, cửa son chiếu mé sông
Nay yến, đầu xuân vào kết tổ
Bên trong nhà cũ lượn bay vòng!

Lộc Bắc
Fev2015

Ngõ áo đen

Bên cầu Chu Tước cỏ chen hoa
Ngõ vắng ô y nhạt nắng tà
Chim én - Tạ, Vương lầu gác cũ,
Giờ bay tan tác khắp dân gia

Lộc Bắc
Jan2015