Saigon

Autumn

Sakura B

Thác Bản Giốc

Ngựa Hoang

Tulip

Osaka

Sakura

Saturday, May 27, 2017

Ngọc lâu xuân - Án Thù

玉樓春 - 晏殊  Ngọc lâu xuân - Án Thù

 

綠楊芳草長亭路,Lục dương phương thảo trường đình lộ,

年少拋人容易去。Niên thiếu phao nhân dung dị khứ.

樓頭殘夢五更鐘,Lâu đầu tàn mộng ngũ canh chung,

花底離愁三月雨。Hoa để ly sầu tam nguyệt vũ.

 

無情不似多情苦,Vô tình bất tự đa tình khổ,

一寸還成千萬縷。Nhất thốn hoàn thành thiên vạn lũ.

天涯地角有窮時,Thiên nhai địa giác hữu cùng thời,

只有相思無盡處。Chỉ hữu tương tư vô tận xứ.

 

Chú Thích

1- Bài từ Ngọc lâu xuân玉樓春còn gọi là Mộc lan hoa木蘭花gồm có 56 chữ chia làm 2 đoạn, mỗi đoạn 4 câu, 3 trắc vận. Cách luật:

 

X  B  X  T  B  B  T vận

B  T  B  B  B  T  T vận

X  B  B  T  T  B  B cú

B  T  B  B  B  T  T vận

 

X  B  X  T  B  B  T vận

T  T  B  B  B  T  T vận

B  B  X  T  T  B  B cú

T  T  X  B  B  T  T vận

 

T: trắc thanh; B: bình thanh; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

 

2- Lục dương 綠楊 = cây dương xanh = cây liễu xanh. Từ thời nhà Tùy, nhà vua cho trồng cây liễu trên bờ sông và ban cho cây này họ Dương vì vậy từ đó gọi là cây dương liễu, gọi tắt là cây dương nhưng thực chất đây chỉ là cây liễu rủ.

3- Trường đình lộ 長亭路:con đường đưa tiễn. Trường đình = nhà để nghỉ ngơi làm bên lề đường cái.

4- Niên thiếu 年少 = tuổi trẻ, chỉ người tình của thiếu nữ, bỏ rơi thiếu nữ ra đi. Phao 拋 = bỏ, vứt bỏ, bỏ rơi. Dung dị = dễ dàng. Niên thiếu phao nhân 年少拋人 cũng có thể hiểu là "Người bị tuổi niên thiếu ruồng bỏ".

5- Tàn mộng 殘夢:mộng chưa hoàn thành.

6- Hoa Để 花底: Dưới hoa = Dưới giàn hoa.

7- Ngũ canh chung, Tam nguyệt vũ 五更鐘、三月雨:là nhóm từ dùng để chỉ thời khắc nhớ nhung người khác.

8- Nhất thốn 一寸: chỉ con tim, tâm tình.

9- Hoàn 還 = ở đây có nghĩa là đã rồi.

10- Thiên vạn lũ 千萬縷:= thiên ty vạn lũ 千絲萬縷 ngàn vạn sợi tơ.

Dịch Nghĩa
Bài từ theo điệu ngọc lâu xuân của Án Thù
(Bài này rất giản dị, hoàn toàn không dùng điển tích, Tác giả tả nỗi lòng của 1 thiếu nữ khi bị người tình bỏ ra đi, lời oán thán của 1 khuê phụ)
Liễu xanh cỏ thơm bên đường cạnh nhà trường đình,
Tuổi trẻ dễ dàng bỏ người mà đi.
Trên lầu vừa tỉnh mộng chuông điểm 5 canh,
Đứng dưới giàn hoa trong lúc mưa tháng 3 về, khiến người càng thấy buồn vì ly biệt.
Người vô tình không bị khổ sở như người đa tình,
Một tấc lòng hóa thành ngàn vạn sợi tơ tình.
Chân trời góc đất cũng có lúc hết (không xa thêm được nữa)
Chỉ có tương tư là vô cùng vô tận.

Phỏng Dịch

1 Ngọc Lâu Xuân – Tương Tư

 

Trường đình dương liễu xanh thơm cỏ.

Niên thiếu lìa người đi dễ bỏ.

Lầu cao tàn mộng năm canh dài,

Mưa tháng ba hoa sầu biệt tự.

 

Vô tình chẳng tựa đa tình khổ.

Một tấc lòng thành ngàn vạn mớ.

Chân trời góc biển có thời cùng,

Chỉ có tương tư vô tận chỗ.

 

2 Tương Tư

Liễu xanh cỏ thắm, mối tình si,
Tuổi trẻ bỏ người cất bước đi.
Lầu vắng năm canh tàn giấc mộng,
Giàn hoa mưa rụng buồn chia ly.

Vô tình đâu biết đa tình khổ,
Tan nát tâm hồn vạn sợi tơ.
Góc biển chân trời xa cách mấy?
Tương tư một nỗi mãi vô bờ.

HHD 9-2014


Tương Tư

Liễu xanh, cỏ thắm đình ven lộ
Tuổi trẻ vô tâm đành dứt bỏ
Lầu mộng tỉnh về chuông nhẹ buông
Dưới hoa ly biệt sầu mưa gió
Vô tình nào sánh đa tình khổ
Vương chút lòng son ngàn nỗi nhớ
Góc biển chân trời giới hạn nơi
Tương tư duy nhất thời vô kể!
Lộc Bắc
09/09/2014
  
Tương Tư

Liễu xanh cỏ thắm mọc bên đường
Kẻ phụ tình si chẳng vấn vương
Chuông đổ năm canh còn thao thức
Mưa rơi sáu khắc vẫn đau thương
Tại mang kiếp nạn đa tình khổ
Nên chịu nhân sinh lắm đọa đầy
Cuối đất cùng trời còn chốn ở
Tương tư sao chẳng chỗ nào nương

Bá Nha
09/09/2014

Tình phụ

Trường đình bóng liễu thơm hương cỏ
Niên thiếu dễ quên tình tương ngộ
Tiếng trống canh năm theo mộng tàn
Mưa tháng ba sầu giàn hoa cũ
Vô tình nào biết đa tình khổ
Lỏng nát tình tan ngàn sợi nhớ
Góc biển chân trời chưa thật xa
Một khối tình si sầu vạn cổ
Thanh Lam

10-09-14

Tô Mạc Già - Phạm Trọng Yêm

Tác giả: Phạm Trọng Yêm (989-1052):

Cha mất sớm, đậu tiến sĩ đời Tống Chân Tông. Cuộc đời hoạn lộ tuy có thăng trầm nhưng vẫn ở mức trung bình. Ông không phải là đại từ gia của đời nhà Tống nhưng cũng để lại vài bài từ bất hủ tả nỗi niềm lữ thứ, tha hương nơi biên tái. Ba chữ bích vân thiên được nữ sĩ Quỳnh Dao mượn đặt tên cho một cuốn tiểu thuyết nói về cuộc tình tay ba của cô giáo và học trò lấy chung một chồng.


蘇幕遮    -   范仲淹  Tô Mạc Già   -  Phạm Trọng Yêm

碧雲天,                         Bích vân thiên,

黃葉地                          Hoàng diệp địa.

秋色連波,                    Thu sắc liên ba,

波上寒煙翠                 Ba thượng hàn yên thúy.

山映斜陽天接水         Sơn ánh tà dương thiên tiếp thủy.

芳草無情,                    Phương thảo vô tình,

更在斜陽外                 Cánh tại tà dương ngoại.

 

黯 鄉魂,                       Ảm hương hồn,

追旅思                          Truy lữ tứ.

夜夜除非,                    Dạ dạ trừ phi,

好夢留人睡                 Hảo mộng lưu nhân thụy.

明月樓高休獨倚         Minh nguyệt lâu cao hưu độc ỷ.

酒入愁腸,                    Tửu nhập sầu trường,

化作相思淚                 Hoá tác tương tư lệ.


Chú Thích
1- Từ điệu Tô mạc già 苏幕遮 gồm 62 chữ, chia làm 2 đoạn, tổng cộng 8 trắc vận:

T  B  B,  B  T  T vận
X  T  B  B,  X  T  B  B  T vận
X  T  X  B  B  T  T vận
X  T  B  B,  X  T  B  B  T vận

T  B  B,  B  T  T vận
X  T  B  B,  X  T  B  B  T vận
X  T  X  B  B  T  T vận
X  T  B  B,  X  T  B  B  T vận

X = bất luận; T = trắc thanh; B = bình thanh.

2- Hương hồn 鄉魂: hồn quê, lòng tưởng nhớ quê hương.
3- Ảm 黯: hình dung tâm tình ưu uất. 
4- Ảm hương hồn 黯鄉魂: tưởng nhớ quê hương mà tâm  tình ưu uất. Do bài "Biệt phú 别赋"  của Giang yêm 江淹: "Ảm nhiên tiêu hồn giả, Duy biệt nhi dĩ hỷ 黯然销魂者,唯别而已矣: Điều làm cho tâm tình người buồn bã, mất hồn lạc phách thì chỉ có biệt ly vậy".
5- Truy 追: truy tùy: quấn quit, theo nhau. 
6- Tứ 思: tình hoài, tình cảm ôm ấp trong lòng. 
7- Truy lữ tứ 追旅思: tâm tình khi lữ hành xa nhà cứ quấn quít mãi.

Dịch nghĩa

Trời mây biếc, Đất lá vàng
Màu thu liền sóng, Trên sóng khói lạnh xanh xanh
Núi ánh nắng tà, trời nối liền nước.
Cỏ thơm vô tình, Lại ở ngoài nắng xế.

Tê tái hồn quê, Nhớ niềm lữ thứ
Tối tối ngoài ra, Mộng đẹp lưu người ngủ
Trăng sáng lầu cao, thôi chớ tựa (lan can).
Rượu vào lòng buồn, Hoá thành giọt lệ tương tư.

Phỏng dịch

Hồn Quê Lữ Thứ

Trời mây xanh biếc chín tầng cao, 
Đất lá vàng rơi khắp một mầu.
Sắc thu liền sóng buồn man mác, 
Thúy lạnh làn sương phủ sóng đầu.

Nắng chiều rọi núi trời liền nước,
Phương thảo vô tình tránh bóng dương.
Tê tái hồn quê buồn lữ thứ,
Đêm về mộng đẹp gợi niềm thương

Lầu cao vằng vặc ánh trăng trong,
Chán cảnh cô đơn ngồi tựa song.
Chén rượu thấm sâu sầu ảm đạm,
Tương tư giọt lệ xót xa lòng.

HHD 12-2012

Bản dịch của Tịnh Phan

Hồn Quê Lữ Thứ

Trên trời mây biếc lững lờ
Dưới đất từng chiêc hững hờ lá khô.
Màu thu liền sóng nhấp nhô
Tỏa làn khói lạnh xanh mờ xa xa.
Đầu non còn ánh nắng tà
Trời cao liền biển sơn hà u minh.
Cỏ thơm rảo bước vô tình
Tránh chi nắng xế lòng mình bâng khuâng!

Tê tái hồn quê cũ
Niềm lữ thứ nao nao
Đêm đêm mơ mộng đẹp
Trăng soi sáng lầu cao.
Rượu sầu môi khẽ nhấp
Lệ tương tư tuôn trào.

Tịnh Phan phỏng dịch

01-01-2013


Bản Dịch của Lộc Bắc

Tô mạc già – Phạm Trọng Yêm 


1-
Xanh mây trời 

Vàng lá đất 
Sóng liền sắc thu 
Trên sóng khói lạnh biếc 
Núi ánh dương tà trời tiếp nước 
Cỏ thơm vô tình
Vươn qua vùng nắng tắt 

Buồn nhớ nhà 

Đeo không dứt 
Hằng đêm trừ phi 
Mộng đẹp thời yên giấc 
Trăng sáng đừng dựa hiên lầu gác 
Rượu nhập sầu vương 
Tương tư hóa thành hạt. 


2-

Xanh mây trời, vàng phai lá đất

Sóng sắc thu, khói biếc dương tà

Núi tiếp nước, cỏ phôi pha

Vươn qua nắng tắt, nhà nhà thức khuya

 

Sầu lữ thứ, nhớ làng quê

Chỉ yên giấc ngủ trừ khi mộng lành

Sáng trăng đừng dựa lầu xanh

Sầu vương giọt rượu hóa thành tương tư!


Lộc Bắc Jul2018

 


Wednesday, May 24, 2017

Ngựa Hoang

                                                                       Ngựa Hoang

                                                                     

Tuesday, May 23, 2017

Phụng Tiêu Ngâm - Hàn Chẩn

鳳簫吟 - 韓縝    Phụng Tiêu Ngâm  -  Hàn Chẩn    

芳草                               Phương Thảo

  

鎖離愁,                     Tỏa ly sầu,  

連綿無際,              Liên miên vô tế,

來時陌上初薰。     Lai thời mạch thượng sơ huân.

繡闈人念遠,         Tú vi nhân niệm viễn,

暗垂珠露,                Ám thùy châu lộ,

泣送征輪。            Khấp tống chinh luân.

長行長在眼,         Trường hành trường tại nhãn,

更重重,遠水孤邨。Cánh trùng trùng, viễn thủy cô thôn.

但望極,樓高盡日,Đản vọng cực, lâu cao tận nhật,

目斷王孫。                 Mục đoạn vương tôn.

 

消魂。                     Tiêu hồn.

池塘從別後,         Trì đường tùng biệt hậu,

曾行處、綠妒輕裙。Tằng hành xứ, lục đố khinh quần.

恁時攜素手,         Nhiệm thời huề tố thủ,

亂花飛絮裏,         Loạn hoa phi nhứ lý,

緩步香茵。            Hoãn bộ hương nhân.

朱顏空自改,         Chu nhan không tự cải,

向年年、芳意長新。Hướng niên niên, phương ý trường tân.

遍綠野、嬉遊醉眼,Biến lục dã, hy du túy nhãn,

莫負青春。                Mạc phụ thanh xuân.

 

Chú Thích

(1) Phụng Tiêu Ngâm鳳簫吟: tên từ điệu.  Cách luật:

 

T B B cú

B B X T cú

B X X T B B vận

X B B T T cú

X B B T cú

T T B B vận

X B B T T cú

T X B, X T B B vận

X T T, B B T T cú

T T B B ận

 

B B vận

B B B T T cú

X B X, T T B B vận

T B B T T cú

X B B T T cú

X T B B vận

X B B T T cú

X X X, X T B B vận

T T T, B B T T cú

X T B B vận

 

T: thanh trắc; B: thanh bằng; X: bất luận; cú: hết câu; vận: vần

 

(2) Mạch陌: đường lộ.

(3) Huân 薰 = hương thơm, ấm áp, noãn hòa.

(4) Tú vi nhân 繡闈人= 繡幃人: người tú phòng繡房, người khuê các閨閣.(5) Châu lộ 珠露 = giọt sương đẹp như ngọc: chỉ giọt nước mắt. Bản khác chép Châu lệ 珠淚 = giọt lệ ngọc.

(6) Luân輪 = bánh xe; chinh luân 征輪 = bánh xe chinh chiến. Bản khác chép “Trưng luân徵輪”, cùng một ý nghĩa.

(7) Ám thùy châu lộ, khấp tống chinh luân暗垂珠露,泣送徵輪: Thầm rơi nước mắt, khóc tiễn bánh xe chinh chiến. Bản khác chép:

“Ám thùy châu lộ khấp, 暗垂珠露泣,

“Tống chinh luân 送征輪。

“Thầm rơi nước mắt khóc,

“Đưa tiễn bánh xe chinh chiến”.

 

(8) Trường hành trường tại nhãn 長行長在眼: Càng đi, đường trước mắt càng xa. Bản khác chép長亭長在眼 Trường đình trường tại nhãn = đi qua 1 cái trường đình lại thấy 1 cái trường đình khác.

(9) Cô thôn孤邨 = 孤村:  làng hẻo lánh. Bản khác chép cô vân 孤雲 = đám mây cô đơn.

(10) Vương tôn 王孫 = chỉ chinh nhân, người phiêu bạc, người tình của khuê phụ. Lấy chữ từ câu thơ trong bài Sở từ “Chiêu ẩn sĩ 招隱士” của Hoài Nam Tiểu Sơn 淮南小山 (có người nói của Lưu An 劉安) đời Tây Hán 西漢:


“Vương tôn du hề bất quy王孫游兮不歸,   

“Phương thảo sinh hề thê thê 芳草生兮萋萋.

“Chàng vương tôn đi hề không về,

“Cỏ thơm mọc hề mượt mà”.

 

(11) Trì 池 = ao hồ; Đường 塘=bờ đê; Trì đường池塘 dùng như 池溏 có nghĩa là ao hồ.

(12) Lục đố khinh quần 綠妒輕裙 : quần lụa mềm mại và cỏ tranh mầu xanh.

(13) Nhiệm thời 恁時 = na thời 那時: lúc đó.

(14) Hương nhân 香茵: bãi cỏ thơm.

 

 

Dịch Nghĩa

Bài từ theo điệu Phụng Tiêu Ngâm của Hàn Chẩn

 

Phương Thảo

 

Khóa kín sầu ly biệt,

Liên miên vô bờ.

Lúc đến trên đường mùi cỏ mới thơm.

Người khuê các nghĩ xa xôi,                                                     

Kín đáo rơi hàng lệ,

Khóc đưa tiễn bánh xe chinh chiến.

Càng đi, đường trước mắt càng xa,

Trùng trùng, dòng nước phương xa, thôn xóm hẻo lánh cô đơn.

Phàm nhìn xa, suốt buổi trên lầu cao,

Mắt theo dõi người vương tôn.

 

Tan hồn.

Sau khi từ biệt bên hồ, (Chinh nhân tưởng nhớ)

Chỗ từng đi qua, cỏ xanh ghen với quần nhẹ (của nàng).

Lúc đó, cầm bàn tay nõn nà,

Trong loạn hoa, nhánh liễu bay,

Bước chậm trên bãi cỏ thơm.

Dung nhan sẽ tự thay đổi, (Chinh phụ tưởng tượng)

Hướng về nhiều năm sau, Ý tưởng sẽ càng thay đổi.

Khắp nơi hoang dã cỏ xanh, Vui chơi thỏa mắt.

Chớ phụ rẫy tuổi xuân.

(Tác giả muốn chấm dứt bài từ trong ý đẹp nên muốn nói chinh phụ hãy quên đi cái sầu ly biệt mà vui với cảnh đẹp trước mắt.)

 

Phỏng Dịch

Phương Thảo

Hương cỏ thơm khóa sầu ly biệt,

Cỏ mênh mông xanh biếc vô bờ.

Trên đường cỏ mọc phất phơ,

Khuê nhân sầu tưởng mịt mờ xa xôi.

 

Lòng thổn thức vương đôi hàng lệ,

Khóc âm thầm tiễn kẻ chinh nhân.

Đường xa hun hút vô ngần,

Cô thôn viễn thủy gian nan trùng trùng.

 

Lên lầu cao mịt mùng trông ngóng,

Suốt ngày tìm hình bóng vương tôn.

Lòng nào mà chẳng tiêu hồn,

Bình minh ngơ ngẩn hoàng hôn thẫn thờ.

 

Nhớ lúc xưa bên hồ giã biệt,

Gót chân sen dạo bước kiêu sa.

Cỏ xanh ghen với quần thoa.

Ân cần nhẹ nắm tay ngà luyến lưu.

 

Cảnh đìu hiu hoa bay liễu rủ,

Trên cỏ thơm hoãn bộ bên nhau.

Dung nhan tàn tạ về sau,

Cỏ non xanh mãi một mầu ngày qua.

 

Thời gian đi năm qua tháng tới,

Ý tứ còn đổi mới liên miên.

Cỏ thơm xanh ngắt một miền,

Vui chơi thỏa mắt thiên nhiên hữu tình,

 

Chớ nên bỏ phí xuân xanh!

 

HHD 9-2014

 

Bản dịch của Lộc Bắc

 

Phương thảo

 

Phủ sầu ly triền miên không dứt

Bởi hương cỏ ngát trên đường

Nghĩ xa xôi người khuê các

Dấu đôi hàng lệ

Khóc tiễn người thương

Đường trường xa vời vợi

Thêm trùng trùng nước bạc cô thôn

Ngóng vọng nơi lầu cao

Trọn ngày dõi bóng vương tôn

 

Nát hồn

Bờ hồ sau ly biệt

Đường xưa cỏ biếc nạnh quần hồng

Một thời tay ngà khoác

Loạn hoa bay liễu rủ

Bước nhẹ cỏ rong

Má hồng rồi biến đổi

Mãi về sau, ý đẹp thêm nồng

Cỏ xanh ngát

Vui chơi say mắt

Chớ phụ xuân mòng!

  

Lộc Bắc

 

Cỏ thơm

 

Biệt ly phong tỏa triền miên

Đường quê hơi cỏ một miền phủ hương

Nghĩ xa khuê phụ lệ vương

Tiễn người yêu dấu lên đường chiến chinh

 

Cõi đi tiếp nối trường đình

Trùng trùng nước bạc đoạn tình cô thôn

Lầu cao ngóng vọng bồn chồn

Dõi theo biệt dạng vương tôn cuối trời

 

Tiêu hồn

Trên đê sau buổi từ ly

Đường quen cỏ biếc phân bì quần thoa

Đương thời ôm ấp tay ngà

Loạn hoa nhành liễu, bước xòa cỏ hương

 

Má hồng biến đổi vô thường

Tháng năm tiếp nối, ý vương muôn trùng

Đồng xanh say mắt mông lung

Ai ơi chớ phụ nấu nung xuân thì!

 

Lộc Bắc

 10/2014



 

Ngọc Mai Lệnh - Khương Quỳ


Khương Quỳ 姜夔 là từ nhân đời Nam Tống 南宋, tên chữ là Nghiêu Chương堯章, hiệu là Bạch Thạch Đạo Nhân 白石道人. Quê ông ở huyện Bà Dương鄱陽, tỉnh Giang Tây江西, TH. Ông đi thi nhiều lần không đậu, chưa bao giờ được làm quan, rất nghèo. Năm 31 tuổi, ông quen biết với thi nhân Tiêu Đức Tảo 蕭德藻, được Tiêu 蕭 quý trọng và gả cháu gái cho. Khi Tiêu Đức Tảo 蕭德藻 đến làm quan ở Chiết Giang 浙江, ông cũng dọn theo và cư trú ở dưới động Bạch Thạch 白石洞, núi Biện Sơn 弁山. Do vậy người đời gọi là Bạch Thạch Đạo Nhân. Qua sự giới thiệu của Tiêu, ông được giao du với những thi nhân danh tiếng như Dương Vạn Lý 楊萬里, Phạm Thành Đại 范成大, Tân Khí tật 辛棄疾 vân vân. Ông giỏi âm luật, biết làm thơ, thiện điền từ. Ông còn để lại bộ “Bạch Thạch Đạo Nhân Ca Khúc 白石道人歌曲”, trong đó có 17 bài được ghi chú theo 7 âm cao thấp.  

 

玉梅令  -  姜夔  Ngọc Mai Lệnh - Khương Qùy

石湖家自制此声,未有语实之,命予作。石湖宅南,隔河有圃曰范村,梅開雪落,竹院深静,而石湖畏寒不出,故戲及之。

Thạch Hồ gia tự chế thử thanh, vị hữu ngữ thật chi, mệnh dư tác. Thạch Hồ trạch nam, cách hà hữu phố viết Phạm thôn, mai khai tuyết lạc, trúc viện thâm tĩnh, nhi Thạch Hồ úy hàn bất xuất, cố hí cập chi 。

 

疏疏雪片。                 Sơ sơ tuyết phiến.

散入溪南苑。             Tán nhập khê nam uyển.

春寒鎖、舊家亭館。Xuân hàn tỏa, cựu gia đình quán.

有玉梅幾樹,             Hữu ngọc mai kỷ thụ,

背立怨東風,             Bối lập oán đông phong,

高花未吐,                 Cao hoa vị thổ,

暗香已遠。                 Ám hương dĩ viễn.

 

公來領略,                 Công lai lãnh lược,

梅花能勸。                 Mai hoa năng khuyến.

花長好、願公更健。Hoa trường hảo, nguyện công cánh kiện.

便揉春為酒,             Tiện nhụ xuân vi tửu,

剪雪作新詩,             Tiễn tuyết tác tân thi,

拚一日、繞花千轉。Phiên nhất nhật, nhiễu hoa thiên chuyển.

 

Chú Thích:

1- Ngọc mai lệnh 玉梅令: tên từ điệu, gồm 66 chữ, đọan trước có 7 câu với 4 trắc vận, đoạn sau có 6 câu, 3 trắc vận. Cách luật:

 

B B T T vận    

T T B B T vận    

B B T, T B B T vận    

T T B T T cú    

T T T B B cú    

B B T T cú   

T B T T vận    

 

B B T T,     

B B B T vận     

B B T, T B T T vận       

T T B B T     

T T T B B      

B T T, T B B T vận

B: bình thanh; T: trắc thanh; cú: hết câu; vận: vần


2- Câu thứ 6, đoạn 1, bản khác chép “B T T   hoa vị thổ 花未吐” thay vì “B B T T   cao hoa vị thổ”

3- Và câu thứ 2 đoạn 2, bản khác chép: “B T B B T mai hạ hoa năng khuyến 梅下花能勸” thay vì “B B B T mai hoa năng khuyến”.

4- Thạch Hồ 石湖: Phạm Thành Đại 范成大, hiệu là Thạch Hồ 石湖, quen với Khương Quỳ. 

5- Cách 隔: ngăn cách, bản khác chép cách 鬲, cùng một ý nghĩa.

6- Phạm thôn 范村:  vườn nhà của Phạm Thành Đai.      

7- Đình quán 亭館: Phòng xá để nghỉ ngơi lúc du ngoạn. 

8- Ngọc mai 玉梅: chữ ngọc dùng để mỹ xưng cây mai hoăc là giống mai này có biệt danh là ngọc mai.

9- Bối lập oán đông phong 背立怨東風:   đứng thẳng để kháng gió xuân lạnh

10- Thổ 吐: nhổ ra, nhả ra, phát ra, thổ tú 吐秀= nở hoa

11- Ám hương 暗香: mùi thơm thoang thoảng.

12- Lãnh lược 領略: có nhiều nghĩa, trong bài này có nghĩa là hân thưởng 欣赏, thưởng ngoạn 赏玩. Bản khác chép 領 客 = đón khách.

13- Khuyến 勸: khuyên bảo, khích lệ, mời như khuyến tửu= mời uống rượu.

14- Nhụ (nhu)  揉: dụi, xoa, dày, vò. Âm quan thoại là róu, trắc thanh. 

15- Tiễn剪: cắt, bản khác chép tiễn 翦, cùng một ý nghĩa.

16- Phiên 拚: nguyên là chữ “biện 拚”. Ở trong bài này chữ “拚” đọc là “phiên” = 翻 có nghĩa là lật qua, dở qua, vượt qua. Bản khác chép “Bạn nhất nhật 拌一日” = qua một ngày, bỏ một ngày.Trong bài này chữ 拌 đọc là phan cũng có nghĩa như chữ 拚.

 

Dịch Nghĩa

Lời chú của tác giả Khương Quỳ: Thạch Hồ làm ra thanh điệu này nhưng chưa có lời nên sai tôi đặt. Ở phía nam nhà Thạch Hồ, bên kia sông, có một khu phố gọi là Phạm thôn, hoa mai nở tuyết rơi, nhà vườn trúc sâu yên tĩnh, mà Thạch Hồ sợ lạnh không ra. Cho nên tôi vui đùa nói tới chuyện này. (Thạch Hồ là bạn thân của Khương Quỳ).

 

Mảnh tuyết thưa thưa.

Tan tác bay vào suối trong vườn phía nam.

Xuân lạnh khóa đình quán nhà xưa.

Có vài cây ngọc mai,

Đứng sững oán gió đông,

Hoa cao chưa nhả,

Hương thơm đã bay xa.

 

Ông đến thưởng ngoạn?

Hoa mai có thể khuyên mời.

Hoa đẹp mãi, chúc ông luôn mạnh.

Bèn vò xuân làm rượu,

Cắt tuyết làm câu thơ mới,

Qua một ngày, lượn quanh hoa nghìn lần.

 

Phỏng Dịch


1 Ngọc Mai Lệnh - Ngọc Mai

 

Lưa thưa tuyết phiến.

Tan tác vùng nam uyển.

Xuân hàn khóa, chốn xưa đình quán.

Có ngọc mai mấy gốc,

Đứng sững oán đông phong,

Hoa cao chưa nhả,

Thoảng hương đã quyện.

 

Ông sang thưởng ngoạn,

Hoa mai mời đến.

Hoa luôn đẹp, kiện khang chúc nguyện.

Bóp nát xuân thành rượu,

Cắt tuyết góp bài thơ,

Qua một buổi, lượn hoa ngàn chuyến.

 

2 Ngọc Mai

 

Lưa thưa hoa tuyết bay tan tác,

Dòng suối vườn nam xuân lạnh lùng.

Khóa chặt nhà xưa đình quán cũ,

Ngọc mai vài gốc oán đông phong.

 

Cành cao hoa nụ chưa khoe sắc,

Thoang thoảng u hương tỏa khắp nơi.

Viễn khách dừng chân vui thưởng ngoạn,

Mai hoa linh hoạt biết khuyên mời.

 

Hoa tươi mãi, chúc người khang, kiện,

Vò sắc xuân thành chén rượu nồng.

Bẻ hạt tuyết, vần thơ mới dệt,

Quanh hoa, ngày hết, lượn ngàn vòng.

HHD 2-2-2017


Bản dịch của Lộc Bắc

NGỌC MAI LỆNH

(I)
Lưa thưa tuyết rũ
Len vào vườn nam tụ
Xuân lạnh khóa quán xưa phòng cũ
Vài cây mai cổ thụ
Đứng thẳng oán gió đông
Hoa chưa nở
Hương thầm lan phủ

Khách đến thưởng ngoạn
Hoa mai khuyến dụ
Hoa tốt tươi, chúc người uy vũ
Bèn vò xuân làm rượu
Cắt tuyết tạo thành thơ
Suốt một ngày, quanh hoa vui thú


(II)
Đông hết lưa thưa màn tuyết rũ
Khe vườn nam rán len vào tụ
Quán xưa xuân lạnh khép lối vào
Lác đác ngoài sau mai cổ thụ

Ngọc mai lưng thẳng oán đông phong
Hoa còn nụ
Mà hương đà lan phủ
Khuyến dụ khách tri âm

Hoa tươi tốt chúc người uy vũ
Chế rượu hương nồng vò sắc xuân
Cắt tuyết làm thơ mời trú ngụ
Quanh hoa lờ lượn biết bao lần!!!

Lộc Bắc
Fev2017


 XUÂN KHAI

          Tuyết trắng lất phất bay
          Suối lạnh có ai hay
          Cửa nhà, đình quán khép
          Gốc mai giận đông dài .

          Cành cao mai còn nụ
          Mùi thơm tỏa ngát trời
          Khách xa dừng bước lữ
          Hương hoa thoảng tiếng mời .

         Mai hé cánh khai xuân
         Rượu ngọt chúc an lành
         Dệt vần thơ trên tuyết 
         Trọn ngày, hoa lượn quanh!

           BACH NGA